tRỢ GIÚP

Thiết kế Tour riêng

Đăng kư Tour

Đặt pḥng Khách sạn

Nạp Font tiếng Việt Unicode

 

 

 LIÊN KẾT WEBSITE


 

 

 

 

PHONG TỤC  TẬP QUÁN VIỆT NAM

 

 

 

Làng Phường

 

Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được h́nh thành trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn bó mật thiết với xóm làng, quê hương.

Trong xă hội Việt Nam, dân cư tụ hội thành làng xă ở nơi đồng ruộng và phường, hội ở nơi thành thị. Làngphường đă ra đời ngay từ những buổi đầu trứng nước của dân tộc. Dần dà, các tổ chức này ngày càng ổn định và chặt chẽ hơn.

Trên cơ sở đồng ḷng nhất trí, ở làng có luật của làng, gọi là hương ước, thợ thủ công ở các xóm nghề, phố nghề th́ có phường ước.

 

Tinh thần then chốt của những hương ước, phường ước xuất phát từ thuần phong mỹ tục của làng, phường, là những cụ thể hoá phong phú sinh động nằm trong khuôn khổ của luật pháp quốc gia. Bảo tàng Hán - Nôm ở Hà Nội và ở các địa phương hiện c̣n lưu giữ hàng vạn bản hương ước, phường ước như vậy.

 

 

Giao thiệp

 

Theo phong tục Việt Nam, "miếng trầu là đầu câu chuyện", miếng trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng nhiều t́nh cảm ư nghĩa, giầu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không "ăn trầu cách mặt" nghĩa là đă tiếp th́ tiếp cho khắp. V́ trầu cau là "Đầu tṛ tiếp khách" lại là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng...

* Tục ăn trầu

Tương truyền có từ thời Hùng Vương và gắn liền với một chuyện cổ tích nổi tiếng "chuyện trầu cau". Miếng trầu gồm 4 thứ nguyên liệu: cau (vị ngọt), lá trầu không (vị cay), rễ (vị đắng) và vôi (vị nồng). Món trầu thể hiện nếp sinh hoạt mang đậm tính dân tộc độc đáo của Việt Nam. Sách xưa ghi rằng "ăn trầu làm thơm miệng, hạ khí, tiêu cơm".

Miếng trầu, làm cho người ta gần gũi, cởi mở với nhau hơn. Miếng trầu nhân lên niềm vui, khách đến được mời trầu; tiệc cưới có đĩa trầu để chia vui; ngày lễ, tết, ngày hội miếng trầu với người lạ để làm quen, kết bạn; với người quen miếng trầu là tri âm tri kỷ. Miếng trầu cũng làm người ta ấm lên trong những ngày đông lạnh giá, làm nguôi vợi bớt nỗi buồn khi nhà có tang, có buồn được sẻ chia cảm thông bởi họ hàng bạn bè làng xóm. Miếng trầu c̣n là sự thể hiện ḷng thành kính của thế hệ sau với các thế hệ trước cho nên trên mâm cỗ thờ cúng gia tiên của người Việt có trầu cau.

* Hút thuốc lào

Sẽ là thiếu nếu nhắc đến trầu mà không nhắc đến thuốc lào. Đa số giới nữ ăn trầu và miếng trầu là đầu câu chuyện c̣n đàn ông, thuốc lào gắn bó với họ lúc vui, buồn thậm trí suốt cả cuộc đời. Thuốc lào được hút bằng điếu ống, điếu bát, để cho tiện dụng khi xa nhà lại hút bằng điếu cày (điếu để hút thuốc trong lúc cày bừa ở đồng ruộng nên gọi là điếu cày)

 

 

Giỗ tết, Tế lễ

giotet.gif (34421 bytes)

 

Quan niệm cổ xưa không riêng ta mà nhiều dân tộc trên thế giới mọi vật do tạo hóa sinh ra đều có linh hồn, mỗi loại vật, kể cả khoáng vật, thực vật cũng có cuộc sống riêng của nó. Mọi vật trong tạo hoá hữu h́nh hay vô h́nh, cụ thể hay trừu tượng đều mang khái niệm âm dương, đều có giống đực giống cái. Đó là xuất xứ tục bái vật hiện tồn tại ở nhiều dân tộc trên thế giới và một vài dân tộc ở miền núi nước ta.

Ở ta, ḥn đá trên chùa, cây đa đầu đ́nh, giếng nước, cửa rừng cũng được nhân dân thờ cúng, coi đó là biểu tượng, nơi ẩn hiện của vị thiên thần hay nhân thần nào đó. Người ta "sợ thần sợ cả cây đa" mà cúng cây đa, đó không thuộc tục bái vật. Cũng như người ta lễ Phật, thờ Chúa, qú trước tượng Phật, tượng Chúa, lễ Thần, qú trước long ngai của thần, nhưng thần hiệu rơ ràng, chứ không phải khúc gỗ ḥn đá như tục bái vật.

 

Ngày nay chỉ c̣n lại vài dấu vết trong phong tục. Thí dụ, b́nh vôi là bà chúa trong nhà, chưa ai định danh là bà chúa ǵ, nhưng b́nh vôi tượng trưng cho uy quyền chúa nhà, nhà nào cũng có b́nh vôi. Khi có dâu về nhà, mẹ chồng tạm lánh ra ngơ cũng mang b́nh vôi theo, có nghĩa là tạm lánh nhưng vẫn nắm giữ uy quyền. Khi lỡ tay làm vỡ b́nh vôi th́ đem mảnh b́nh c̣n lại cất ở chỗ uy nghiêm hoặc đưa lên đ́nh chùa, không vứt ở chỗ ô uế. Gỗ cḥ là loại gỗ quí, gỗ thiêng chỉ được dùng để xây dựng đ́nh chùa, nhà thờ. Dân không được dùng gỗ cḥ làm nhà ở. Ngày xưa trong đám củi theo lũ cuốn về xuôi, nếu có gỗ cḥ, các cụ c̣n mặc áo thụng ra lạy.

 

 

Tết Nguyên Đán

 

* Giao thừa & Lễ trừ tịch

Lẽ trời đất có khởi thuỷ phải có tận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có kết thúc, bắt đầu vào lúc giao thừa, cũng lại kết thúc vào lúc giao thừa.

Giao thừa là ǵ? Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh nghĩa là cũ giao lại, mới đón lấy. Chính v́ ư nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ, mới này, có lễ trừ tịch Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt đầu qua năm mới. Vào lúc này, dân chúng Việt Nam theo cổ lệ có làm lễ Trừ tịch. Ư nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch c̣n là lễ để " khu trừ ma quỷ", do đó có từ "trừ tịch". Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên c̣n mang tên là lễ giao thừa.

* Cúng ai trong lễ giao thừa

Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm th́ thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới. Lễ giao thừa được cúng ở ngoài trời là bởi v́ các cụ xưa h́nh dung trong phút cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vă (nhưng mắt trần ta không nh́n thấy được), thậm chí có quan quân c̣n chưa kịp ăn uống ǵ. Những phút ấy, các gia đ́nh đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với ḷng thành tiễn đưa người nhà trời đă cai quản ḿnh năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. V́ việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến ḷng thành của chủ nhà.

* Sửa lễ giao thừa

Người ta cúng giao thừa tại các đ́nh, miếu, các văn chỉ trong xóm cũng như tại các tư gia. Bàn thờ giao thừa được thiết lập ở giữa trời. Một chiếc hương án được kê ra, trên có b́nh hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm: chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mă, đôi khi có thêm chiếc mũ của Đại Vương hành khiển.Đến giờ phút trừ tịch, chuông trống vang lên, người chủ ra khấu lễ, rồi mọi người kế đó lễ theo, thành tâm cầu xin vị tân vương hành khiển phù hộ độ tŕ cho một năm nhiều may mắn. Các chùa chiền cũng cúng giao thừa nhưng lễ vật là đồ chay. Ngày nay, ở các tư gia người ta vẫn cúng giao thừa với sự thành kính như xưa  nhưng bàn thờ th́ giản tiện hơn, thường đặt ở ngoài sân hay trước cửa nhà.

·          Lễ cúng Thổ Công

Sau khi cúng giao thừa xong, các gia chủ cũng khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà. Lễ vật cũng tương tự như lễ cúng giao thừa.

·          Mấy tục lệ trong đêm trừ tịch

Sau khi làm lễ giao thừa, các cụ ta có những tục lệ riêng mà cho đến nay, từ thôn quê đến thành thị, vẫn c̣n nhiều người tôn trọng thực hiện.

Lễ chùa, đ́nh, đền: Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đ́nh, chùa, miếu, điện để cầu phúc, cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ tŕ cho bản thân và gia đ́nh và nhân dịp này người ta thường xin quẻ thẻ đầu năm.
Kén hướng xuất hành: Khi đi lễ, người ta kén giờ và hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp may mắn quanh năm.

Hái lộc: Đi lễ đ́nh, chùa, miếu, điện xong người ta có tục hái trước cửa đ́nh, cửa đền một cành cây  gọi là cành lộc mang về ngụ ư là "lấy lộc" của Trời đất Thần Phật ban cho. Cành lộc này được mang về cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô.
Hương lộc: Có nhiều người thay v́ hái cành lộc lại xin lộc tại các đ́nh, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm vào b́nh hương bàn thờ nhà ḿnh.Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt được lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật ,Thánh phù hộ cho được phát đạt quanh năm.
Xông nhà: Thường người ta kén một người "dễ vía" trong gia đ́nh ra đi từ trước giờ trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch th́  xin hương lộc hoặc hái cành lộc  ở đ́nh chùa mang về. Lúc trở về đă sang năm mới và ngựi này sẽ tự "xông nhà" cho gia đ́nh ḿnh, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đ́nh. Nếu không có người nhà dễ vía người ta phải nhờ người khác tốt vía để sớm ngày mồng một đến xông nhà trước khi có khách tới chúc tết, để người này đem lại sự may mắn dễ dăi.

 

 

Tục lễ đầu xuân

 

* Tục lễ Động thổ
Lễ Động Thổ bắt đầu ở Trung Quốc sau truyền sang Việt Nam. Động thổ nghĩa là động đất, và trong khi động đất phải có lễ cúng Thổ Thần để tŕnh xin bắt đầu động đến đất cho một năm mới.
Hàng năm, sau ngày mồng ba Tết, các làng thường làm lễ Động Thổ để cho dân làng có thể đào cuốc xới được. Các bậc kỳ lăo và quan viên được cử làm chủ tế và bồi tế. Lễ vật gồm hương đăng, trầu rượu, y phục và kim ngân đồ mă. Trong buổi lễ, ông chủ tế cuốc mấy nhát xuống đất để lấy một cục đất đặt lên bàn thờ, "tường tŕnh" với Thổ Thần xin cho dân được động thổ. Sau lễ động thổ dân làng mới được động tới đất. Ai cuốc xới trước lễ động thổ bị dân làng bắt vạ.  

* Lễ Khai hạ
Theo tục lệ Việt Nam, ngày mồng bảy tháng Giêng là ngày hạ cây nêu. Cây nêu trồng trong năm, khi sửa soạn đón tết cùng với cung tên bằng vôi trắng vẽ trước cửa nhà để "trừ ma quỷ", nay được hạ xuống.
Lễ hạ nêu c̣n được gọi là lễ Khai Hạ. Nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng Trời Đất, người ta c̣n sửa lễ cúng Gia Tiên, cúng Thổ Côngvà thần Tài. Thường sau ngày lễ này, mọi công việc thường xuyên mới được bắt đầu trở lại.

* Lễ Thần nông
Thần nông tức là vị hoàng đế Trung Hoa đầu tiên đă dạy dân nghề làm ruộng. Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong sự được mùa và nghề nông phát đạt.
Trên các quyển lịch hàng năm của người Trung Hoa thường có vẽ một mục đồng dắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, c̣n con trâu tượng trưng cho nghề Nông. H́nh mục đồng cũng như con trâu thay đổi hàng năm tuỳ theo sự ước đoán của cơ sở dự báo khí tượng về mùa màng năm đó tốt hay xấu. Năm nào được mùa, Thần Nông giầy dép chỉnh tề, c̣n năm nào đói kém, Thần Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày có một chân. Con trâu đổi màu tuỳ theo hành của mỗi năm, vàng, đen, trắng, xanh, đỏ đúng với Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏa, Thổ. Hàng năm, vào ngày Lập Xuân tại triều đ́nh xưa cũng như tại các tỉnh có tục tế và rước Thần Nông. Người ta nặn trâu và tượngThần Nông có dáng vẻ và màu sắc đúng với sự ước lượng về mùa màng năm đó. Sau đó lập đài để rước trâu và tượng Thần Nông tới làm lễ tế. Sau mỗi cuộc tế, trâu và tượng Thần Nông được khiêng cất vào kho hoặc đem chôn.

* Lễ Tịch điền
Lễ Tịch điền c̣n gọi là lễ Hạ điền do chính vua Thần Nông đặt ra. Cũng như các nghi lễ khác, lễ Tịch Điền của người Tàu đă du nhập sang ta. Hàng năm vào đầu xuân, nhà vua lại tự thân cày mấy luống đất để làm gương cho dân chúng và cử hành lễ Tịch Điền. Tiếp sau vua, các hoàng thân, các quan văn vơ, các chức sắc, bộ lăo sở tại cũng ra cày. Tại các tỉnh, các xă cũng có lễ Tịch Điền... Ở tỉnh, quan tỉnh bắt đầu lễ Tịch Điền bằng việc cày và ở xă là vị chức sắc cao nhất trong xă.  Tùy từng triều đại việc cử hành lễ Tịch Điền có lúc   long trọng, lúc đơn giản và ở mỗi địa phương  cũng có những tục lệ riêng.

* Lễ Thượng Nguyên hay Cúng rằm tháng Giêng
Lễ Thượng Nguyên vào ngày rằm tháng Giêng. Từ triều đ́nh đến dân chúng đều có lễ Phật trong ngày này. Ta có câu: "Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng Giêng". Tục ta tin rằng ngày rằm tháng Giêng, đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ ḷng thành của các tín đồ phật giáo. Trong dịp này chùa nào cũng đông người tới  lễ bái.

* Lễ Khai ấn
Các ấn được lau chùi trong năm, ngoài xuân bộ lễ theo tục cũ cũng được chọn  ngày lành, giờ tốt để làm lễ khai ấn nghĩa là dùng ấn đóng lên một công văn, chỉ dụ.
Thường văn bản đầu tiên được đóng ấn là bản văn tốt lành. Tục khai ấn này, Tại các
tỉnh, các phủ, huyện, châu, xă xưa kia mỗi viên chức có ấn đều được chọn ngày khai ấn và sửa lễ cúng vị thần giữ về ấn tín trong dịp lễ khai ấn.

 

 

Tết Thanh Minh

 

Thanh Minh

Là tiết thứ năm trong "nhị thập tứ khí" và đă được người phương Đông coi là một lễ tiết hàng năm. Tiết Thanh Minh đến sau ngày Lập Xuân 45 ngày. Theo nghĩa đen, thanh là khí trong, c̣n minh là sáng sủa. Khi tiết Xuân Phân qua, những cơn mưa bụi của trời xuân đă hết, bầu trời trở nên quang đăng, sáng sủa là sang tiết Thanh Minh (thường bắt đầu trong tháng ba hoặc muộn lắm là đầu tháng tư âm lịch tuỳ từng năm).

Tết Thanh Minh

Nhân ngày Thanh Minh, cũng như nhiều dân tộc Á Đông khác. Dân ta có tục đi viếng mộ gia tiên và làm lễ cúng gia tiên sau cuộc tảo mộ.

Lễ tảo mộ: Tảo mộ chính là sửa sang ngôi mộ cho sạch sẽ. Nhân ngày lễ Thanh Minh người ta mang theo cuốc xẻng để đắp lại nấm mồ cho to, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trèo lên mộ có thể phạm tới hài cốt của người thân đă khuất. Sau đó cắm mấy nén hương, đốt vàng mă hoặc đặt thêm bó hoa dâng cho vong hồn người quá văng.

Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, săn sóc, c̣n có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng. Những người có ḷng nhân đức không khỏi mủi ḷng thường cắm một nén hương, đốt nắm vàng mă cho những ngôi mộ này. Tại các nơi tha ma mộ địa c̣n có lập một cái am để thờ chung những mồ mả vô chủ gọi là Am chúng sinh và mỗi cửa am có một bà đồng sớm tối đèn hương thờ phụng.

Mọi người đi tảo mộ ăn vận rất chỉnh tề. Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này để tảo mộ gia tiên và sum họp với đại gia đ́nh. Thường người ta đi tảo mộ từ sáng sớm cho đến gần trưa.

Tục lệ tảo mộ: Thường người ta đi tảo mộ vào tiết Thanh Minh trời quang mây tĩnh, và sau đó kính mời hương hồn tổ tiên về hưởng cỗ con cháu cúng trong dịp này. Nhưng cũng có nhiều nơi người ta tảo mộ vào dịp trước và sau ngày Tết. Nhiều làng thuộc tỉnh Hà Đông ở vào vùng đất thấp, tới vụ nước, ruộng nương và cả băi tha ma đều ngập nước, th́ người ta đi tảo mộ vào đầu tháng chín, sau khi nước đă rút. Dù đi tảo mộ vào ngày nào th́ việc thăm nom mồ mả tổ tiên cũng là việc hay. Nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến gốc, tưởng đến nguồn.

Cúng lễ trong ngày Tết Thanh Minh: Tết Thanh Minh cũng là dịp để con cháu sửa lễ cúng gia tiên sau khi viếng mộ về. Cũng có nhà sửa lễ mang ra mộ cúng, nhưng đó chỉ là cúng riêng một ngôi mộ. C̣n sau đó người ta vẫn cúng ở bàn thờ tổ tiên và khấn tất cả gia tiên nội ngoại về phối hưởng. Người ta thường cúng mặn trong ngày Thanh Minh, nghĩa là có làm cỗ, hoặc không làm cỗ th́ cũng có đĩa xôi, con gà cùng với hương hoa, trà rượu, vàng mă. Và đồng thời với việc cúng tổ tiên cũng có cúng Thổ Công như trong mọi dịp.

 

 

Cúng giỗ

 

Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đă khuất mà cúng giỗ. Đây cũng là dịp gặp mặt  người thân trong gia đ́nh trong ḍng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đă khuất và bàn việc người sống giữ ǵn gia phong. Vào dịp đó người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là ăn giỗ, th́ cũng là trước cúng sau ăn, cũng là để cho cuộc gặp mặt đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm t́nh, chuyện làm ăn. Với ư nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" việc đó có thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

 

* Ngày cúng giỗ

Ngày giỗ theo âm Hán là huư nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ. Nguyên ngày trước, "Lễ giỗ" gọi là "Lễ chính kỵ"; chiều hôm trước lễ chính kỵ có "lễ tiên thường" (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc v́ bận việc hoặc v́ kinh tế hoặc v́ thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một

lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước th́ trước

 

ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.

* Mấy đời tống giỗ

 

Theo gia lễ: "Ngũ đại mai thần chủ", hễ đến năm đời th́ lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần chủ ông khảo.
Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên); thân ḿnh và tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới ḿnh). Như vậy là chỉ có 4 đời làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ (hay can) cụ (hay cố), ông bà, cha mẹ. Từ "Cao" trở lên gọi chung là tiên tổ th́ không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ tổ.

 

* Cúng giỗ người chết yểu

 

Những người đă đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối gịng). Những người đó có cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc anh ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đă khuất. Sau khi người thừa tự mất th́ con cháu người thừa tự đó tiếp tự.

Những người chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ theo tục lệ địa phương) sau khi hết lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ với tiên tổ.

Những người đó không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đ́nh bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mân, coi như người thân c̣n sốngtrong gia đ́nh. Điều này không có trong gia lễ nhưng thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đă khuất.

 

 

Cưới hỏi

 

* Nam nữ thụ thụ bất thân là ǵ?
Đây là câu nói cửa miệng, quen dùng chỉ mối quan hệ nam nữ theo quan niệm của nhà nho. Người đàn ông và người đàn bà ngày xưa trao cho nhau cái ǵ, nhận của nhau cái ǵ, đều không trực tiếp tận tay, sợ bấm nháy, ra hiệu ǵ với nhau chăng? Hai người muốn mời nhau ăn trầu, th́ người chủ tiêm trầu, đặt giữa bàn, khách tự nhặt lấy mà ăn. Lễ giáo phong kiến thật khắt khe, việc tỏ t́nh trực tiếp khó mà thực hiện được, họa chăng chỉ có đôi mắt là thầm lén nh́n nhau! V́ vậy các nhà quyền quư thường "cấm cung" con gái. Ngay từ tuổi thơ đă sớm h́nh thành sự ngăn cách giới tính.

* Mối lái là ǵ ?
Trong xă hội phong kiến xưa "Nam nữ thụ thụ bất thân" nên hôn nhân cần phải có môi giới. Nếu yêu nhau, cưới hỏi không cần mối lái sẽ bị chê trách. Trong xă hội cũ, có những người chuyên làm nghề mối lái, nếu đẹp đôi vừa lứa th́ trở thành ân nhân suốt đời. Ở xă hội mới, ngày nay vẫn c̣n có các bà mối, các bà mối thời nay là người cố vấn, người đỡ đầu cho đôi trẻ xây dựng hạnh phúc lâu dài. Các bà mối chính là phương tiện thông tin đại chúng, câu lạc bộ người độc thân, các công ty dịch vụ....

* Lễ vấn danh có ư nghĩa ǵ ?
Là lễ nhà trai đến nhà gái hỏi tên tuổi cô gái, ngày nay gọi là lễ "Chạm ngơ" hay là lễ "Dạm".
Trong hôn nhân xưa chỉ chú trọng có môn đăng hộ đối hay không, có hợp tuổi không, gia đ́nh nào thận trọng mới t́m hiểu "Công, dung, ngôn, hạnh". Chẳng những các chàng trai, trước khi cưới nhiều chàng chưa biết mặt vợ, mà cả những ông bố chồng là người chủ động đi hỏi dâu cũng không biết mặt con dâu.

* Sự tích tơ hồng
Tơ hồng Nguyệt lăo thiên tiên dựa theo tích Vi Cố gặp ông lăo trong một đêm trăng, ngồi kiểm soát hướng về phía mặt trăng, sau lưng có túi đựng dây đỏ. Ông lăo bảo đó là văn thư đựng hôn ước của thiên hạ, c̣n những sợi dây đỏ để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ thành chồng. Một hôm, Vi Cố vào chợ gặp một bà lăo chột mắt bế một đứa bé gái, ông lăo hiện ra bảo cho biết đứa bé gái kia sẽ là vợ anh, Vi Cố giận, sai đầy tớ t́m giết đứa bé ấy đi. Người đầy tớ đâm đứa bé giữa đám đông rồi bỏ trốn. Muời bốn năm sau, quan Thứ Sử Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Người con gái dung sắc tươi đẹp, giữa lông mày có dính trang điểm một bông mai vàng. Vương Cố gạn hỏi, vợ mới thưa: thuở c̣n bé, bà vú bế vào chợ bị một đứa cuồng tặc đâm. Vi Cố hỏi lại: có phải bà vú bị chột mắt không? Người vợ bảo: đúng thế. Vi Cố kể lại việc trước, hai vợ chồng càng quư trọng nhau cho là duyên trời đă định sẵn.

* Tục thách cưới
Thách cưới là một lệ tục lạc hậu, trói buộc cả nhà trai lẫn nhà gái, có khi làm cho chàng rể phải bỏ cuộc mà nỗi thiệt tḥi lại rơi vào thân phận người con gái, dẫu sao cũng mang tiếng một đời chồng, dẫu sao cũng làm cho những chàng trai khác phải ngại, xui nên thân phận hẩm hiu.

Đáng lẽ nên vợ nên chồng, thành gia thành thất, là mừng cho cả hai gia đ́nh nhưng gặp phải ông bác bà cô bên nhà gái khó tính, thách cưới nào là quần áo, nón dép, nào nhẫn xuyến, hoa tai, tiền mặt, cỗ cưới...nên nhà trai phải bỏ cuộc hoặc phải chạy ngược chạy xuôi, lo xong việc rồi kéo cày trả nợ, song ngay từ buổi thành hôn, nghĩa vợ chồng, t́nh thông gia đă bị sứt mẻ, đó là mầm mống gây nhiều bất trắc về sau.

Cũng có trường hợp nhà gái túng thiếu không thể tự lực cung cấp cho đủ lệ làng, đ̣i hỏi nhà trai phải lo chu toàn. Cũng có trường hợp bố mẹ cô dâu c̣n phải xuất ra gấp năm gấp mười lần, và sau khi thành thân, c̣n cho con gái, con rể nhiều thứ, nhưng cũng thách cưới cao để tránh tiếng x́ xào, đàm tiếu rằng con gái ḿnh dở duyên rồi, nên phải cho không.

Hay các gia đ́nh có học th́ lại không thách tiền, thách của mà thách chữ nghĩa văn chương chọn rể con nhà gia thế, với hy vọng tương lai con gái ḿnh c̣n được "vơng anh đi trước, vơng nàng theo sau".

* Tiền "Cheo"
Tiền "Cheo" là khoản tiền nhà trai nạp cho làng xă bên nhà gái. Trai gái cùng làng xă lấy nhau cũng phải nộp cheo nhưng có giảm bớt. Xuất xứ của lệ "nạp cheo" là tục "Lan nhai" tức là tục chăng dây ở dọc đường hoặc ở cổng làng. Đầu tiên th́ người ta tổ chức đón mừng hôn lễ, người ta chúc tụng. Để đáp lễ, đoàn đưa dâu cũng đưa trầu cau ra mời, đưa quà, đưa tiền biếu tặng. Dần dần có nhiều người lợi dụng ṿi tiền, sách nhiễu, trở thành lệ tục xấu, triều đ́nh ra lệnh băi bỏ. Thay thế vào đó, cho phép làng xă được thu tiền cheo. Khi đă nộp cheo cho làng, tức là đám cưới được công nhận có giấy biên nhận hẳn hoi. Ngày xưa, chưa có thủ tục đăng kư kết hôn, th́ tờ nạp cheo coi như tờ hôn thú. Khoản tiền cheo này nhiều địa phương dùng cho việc công ích như đào giếng, đắp đường, lát gạch, xây cổng làng... Đă hơn nửa thế kư, lệ làng này bị băi bỏ rồi.

* Trước khi cô dâu về nhà chồng cần những thủ tục ǵ?
Khi nhà trai bắt đầu đến đón dâu cùng với chú rể đến trước bàn thờ xin tổ tiên chấp nhận kể từ nay nên vợ nên chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận đẹp, cầm sắt giao hoà. Lễ xong, hai người đi mời chào thân nhân, khách khứa, trước hết là những người bề trên, cao tuổi, khách trước, người nhà sau. Trong khi chào mời, cô dâu phải giới thiệu cho chàng rể biết mối quan hệ để biết cách xưng hô.
Sau cùng, trước khi bước ra cửa để về nhà chồng là lễ tạ cha mẹ. Cha mẹ ngồi sẵn một phía ở cửa chính, nếu ông bà nội ngoại c̣n thượng tại có đến dự th́ ông bà cũng ngồi chung một phía, nhưng ở phía cao hơn. Thời xưa đôi tân hôn phải lạy hai lạy, ngày nay châm chước, cúi đầu cung kính xin phép ông bà, cha mẹ. Lúc đó, cha mẹ ban phát cho con gái, con rể một vật ǵ đó làm kỷ niệm.

* Ư nghĩa của lễ xin dâu và thủ tục
Lễ này rất đơn giản, trước giờ đón dâu, nhà trai cử một hai người, thường là bác, bà cô, bà chị của chú rể đưa một cơi trầu, một be rượu đến xin dâu, báo trước giờ đoàn đóndâu sẽ đến, để nhà gái sẵn sàng đón tiếp. Phong tục này có nhiều ư nghĩa hay: mặc dù hai gia đ́nh đă quy ước với nhau từ trước về ngày giờ và thành phần đón dâu, song để đề pḥng mọi bất trắc nên mới định ra lễ này để cẩn trọng trong hôn lễ. Thời gian này chú rể và bố mẹ chú rể rất bận rộn nên không thể sang nhà gái, nên uỷ thác cho người đại diện sang báo như bộ phận "tiềm trạm".
Trong trường hợp hai gia đ́nh cách nhau quá xa hoặc quá gần, hai gia đ́nh có thể thoả thuận để miễn lễ nay, hoặc nhập lễ xin dâu và lễ đón dâu vào làm một. Cách nhập lễ xin dâu và đón dâu tiến hành như sau:
Khi đoàn vào đón dâu đến ngơ nhà gái, đoàn chỉnh đốn lại y trang, sắp xếp lại thứ tự đi trước đi sau, trong khi đó một cụ già đi đầu cùng một người đội lễ (mâm quả trong đựng trầu cau, rượu) vào trước, đặt lên bàn thờ, thắp hương vái rồi trở ra dẫn đoàn vào chính thức làm lễ đón dâu. Lễ này phải tiến hành rất nhanh. Thông thường nhà gái vái chào xong, chủ động xin miễn lễ rồi một vị huynh trưởng cũng ra luôn để đón đoàn nhà trai vào.

* Mẹ chồng làm ǵ khi con dâu bắt đầu về nhà?
Phong tục ở mỗi địa phương một khác, trái ngược nhau nhưng đều có ư nghĩa hay.
Ngày xưa ở nhiều địa phương Nghệ An, Hà Tĩnh có lệ tục mẹ chồng ra cất nón cho con dâu: Nhà trai đặt sẵn trước ngơ một nồi đồng, một cái gáo, trong nồi đặt sẵn một quan tiền đồng và đựng đầy nước trong. Cô dâu vào đến cổng dùng gáo múc nước rửa mặt mũi chân tay, mẹ chồng bước ra cất nón cho con dâu.

 

 

Tang lễ

 

Người Việt Nam quan niệm rằng "nghĩa tử là nghĩa tận" nên khi có người chết, tang lễ được tổ chức trọng thể. Tŕnh tự lễ tang ngày trước như sau: người chết được tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo tươm tất, rồi lấy một chiếc đũa đặt giữa hai hàm răng, bỏ vào miệng một dúm gạo và ba đồng tiền xu gọi là lễ ngậm hàm. Sau đó đặt người chết nằm xuống chiếu trải sẵn dưới đất (theo quan niệm "từ đất sinh ra lại trở về với đất"). Tiếp đó là lễ khâm liệm (liệm bằng vải trắng) và lễ nhập quan (đưa thi hài vào quan tài). Sau khi nhập quan là lễ thành phục, chính thức phát tang. Con trai, con gái và con dâu của người quá cố, đội khăn sô, mũ chuối (hoặc mũ tết bằng rơm), mặc áo sô. Cháu chắt họ hàng, thân thích chít khăn để tang. Những ngày quàn người chết trong nhà đều phải cúng cơm sớm, chiều. Phường nhạc cử nhạc ai, bà con, bạn bè, làng xóm đến viếng. Sau khi chọn được ngày, giờ tốt làm lễ đưa tang. Đám tang có câu đối, linh sàng, nhà táng (nơi đặt linh cữu). Người đưa tang đi sau linh cữu, dọc đường có rắc vàng thoi (bằng giấy). Đến huyệt làm lễ hạ huyệt và đắp mộ. Chôn cất xong về nhà làm lễ tế. Ba ngày sau tang chủ làm lễ viếng mộ (lễ mở cửa mả), được 49 ngày làm lễ chung thất (thôi cúng cơm cho người chết). Sau 100 ngày làm lễ tốt khốc (thôi khóc). Sau một năm làm lễ giỗ đầu, sau ba năm (ở nhiều nơi là hai năm) làm lễ hết tang.

Ngày nay, lễ tang được tổ chức theo nghi thức đơn giản hơn: lễ khâm liệm, lễ nhập quan, lễ viếng, lễ đưa tang, lễ hạ huyệt và lễ viếng mộ. Người trong gia đ́nh để tang bằng cách chít khăn trắng hoặc đeo băng tang đen.

 

 

Lễ hội Việt Nam

 

Mùa xuân - mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật, cỏ cây...Giữa tiết trời ấm áp ấy, ḷng người phơi phới rủ nhau đi hội, hành hương về cội nguồn, vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con người hạnh phúc.

Lễ hội ở Viet Nam thật đa dạng và phong phú. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu ḷng cứu nhân độ thế... Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của ḿnh. Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xă, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân.

Bởi phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các tṛ vui chơi ở lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng vơ như: thi bắn nỏ, đấu vật (hội Cổ Loa) đấu vật, đấu vơ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam Định), thi bắn nỏ, ném c̣n (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc) v.v... các lễ hội của bà con dân tộc Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu được coi như tiêu biểu nhất. Trong lễ hội này, ngoài nghi lễ đâm trâu hiến tế hấp dẫn, ly kỳ c̣n có tṛ múa khiên, ném lao, đấu gậy.

Các tṛ vui chơi giải trí ở lễ hội c̣n bao gồm những hoạt động văn hoá, xă hội khác như thi hát Quan họ, thi thổi cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật, đánh đu... Đặc biệt nhất là thi đánh đu, không chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội lớn mà c̣n là một tṛ vui chơi dân dă trong những ngày Tết ở khắp các làng xă.

 

 

Nguồn : Tổng Cục Du lịch Vietnam

 

 

 

 

| Trang Chủ | Giới thiệu Viet Nam | Các điểm du lịch ở Viet Nam | Thông tin cần thiết | Thủ tục Visa XNC và Hải Quan | Các Di sản Thế giới tại VN |

SAO MAI TOURIST COMPANY LTD.

SAIGON OFFICE

HANOI OFFICE

R# 307 – 309 Cotec building , 7  Nam Quoc Cang

Disttrict 1 , Ho Chi Minh City

R# 304 North Star building , 4  Da Tuong St.

Hoan Kiem Dist. Hanoi

Tel. (84-8) 9253385 / 9253378

Fax. (84-8) 9253378 / 8395619

Tel. (84-4) 9423315 / 9423316

Fax. (84-4) 9423316 / 8647360

E-mail.  saomaitours@hcm.vnn.vn

E-mail. saomaihanoi@fpt.vn

 

Website: http://www.saomaitours.com/  http://www.saomaitours.com.vn/   Contact: info@saomaitours.com or saomaitours@hcm.vnn.vn

 

Copyright @ 2005 – Saomaitours Vietnam All rights reserved