|
|
|
Làng Phường
|
|
|
|

|
Nền
văn hoá truyền thống Việt Nam được h́nh
thành trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp.
Cuộc sống của mỗi người Việt Nam
đều gắn bó mật thiết với xóm làng, quê
hương.
Trong
xă hội Việt Nam,
dân cư tụ hội thành làng xă ở nơi đồng
ruộng và phường, hội ở nơi thành
thị. Làng và phường đă ra đời
ngay từ những buổi đầu trứng nước
của dân tộc. Dần dà, các tổ chức này ngày
càng ổn định và chặt chẽ hơn.
Trên cơ
sở đồng ḷng nhất trí, ở làng có luật
của làng, gọi là hương ước, thợ
thủ công ở các xóm nghề, phố nghề th́ có phường
ước.
|
|
|
|
Tinh thần
then chốt của những hương ước,
phường ước xuất phát từ thuần
phong mỹ tục của làng, phường, là những
cụ thể hoá phong phú sinh động nằm trong khuôn
khổ của luật pháp quốc gia. Bảo
tàng Hán - Nôm ở Hà Nội và ở các địa
phương hiện c̣n lưu giữ hàng vạn bản
hương ước, phường ước
như vậy.
|
|
|
|

|
|
|
|
Giao thiệp
|
|
|
|
Theo
phong tục Việt Nam, "miếng trầu
là đầu câu chuyện", miếng
trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng
nhiều t́nh cảm ư nghĩa, giầu nghèo ai cũng có
thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi
đôi với lời chào, người lịch sự
không "ăn trầu cách mặt"
nghĩa là đă tiếp th́ tiếp cho khắp. V́ trầu
cau là "Đầu tṛ tiếp khách" lại là biểu
tượng cho sự tôn kính, phổ biến trong các lễ
tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới,
lễ thọ, lễ mừng...
* Tục ăn
trầu
Tương
truyền có từ thời Hùng Vương và gắn liền
với một chuyện cổ tích nổi tiếng
"chuyện trầu cau". Miếng trầu gồm 4
thứ nguyên liệu: cau (vị ngọt), lá trầu
không (vị cay), rễ (vị đắng) và
vôi (vị nồng). Món trầu thể hiện nếp
sinh hoạt mang đậm tính dân tộc độc
đáo của Việt Nam. Sách xưa ghi rằng
"ăn trầu làm thơm
miệng, hạ khí, tiêu cơm".
Miếng trầu, làm cho người ta gần gũi, cởi
mở với nhau hơn. Miếng trầu nhân lên niềm
vui, khách đến được mời trầu; tiệc
cưới có đĩa trầu để chia vui; ngày lễ,
tết, ngày hội miếng trầu với người
lạ để làm quen, kết bạn; với người
quen miếng trầu là tri âm tri kỷ. Miếng trầu
cũng làm người ta ấm lên trong những ngày
đông lạnh giá, làm nguôi vợi bớt nỗi buồn
khi nhà có tang, có buồn được sẻ chia cảm
thông bởi họ hàng bạn bè làng xóm. Miếng trầu
c̣n là sự thể hiện ḷng thành kính của thế hệ
sau với các thế hệ trước cho nên trên mâm cỗ
thờ cúng gia tiên của người Việt có trầu
cau.
* Hút thuốc
lào
Sẽ là
thiếu nếu nhắc đến trầu mà không nhắc
đến thuốc lào. Đa số giới nữ ăn trầu và miếng trầu là
đầu câu chuyện c̣n đàn ông, thuốc lào gắn
bó với họ lúc vui, buồn thậm trí suốt cả
cuộc đời. Thuốc lào được hút bằng
điếu ống, điếu bát, để
cho tiện dụng khi xa nhà lại hút bằng điếu
cày (điếu để hút thuốc trong lúc cày bừa
ở đồng ruộng nên gọi là điếu cày)
|
|
|
|

|
|
|
|
Giỗ
tết, Tế lễ
|
|

|
|
|
Quan niệm cổ xưa không riêng
ta mà nhiều dân tộc trên thế giới mọi vật
do tạo hóa sinh ra đều có linh hồn, mỗi loại
vật, kể cả khoáng vật, thực vật cũng
có cuộc sống riêng của nó. Mọi vật trong tạo
hoá hữu h́nh hay vô h́nh, cụ thể hay trừu tượng
đều mang khái niệm âm dương, đều có
giống đực giống cái. Đó là xuất xứ tục
bái vật hiện tồn tại ở nhiều dân tộc
trên thế giới và một vài dân tộc ở miền
núi nước ta.
Ở ta, ḥn
đá trên chùa, cây đa đầu đ́nh, giếng
nước, cửa rừng cũng được nhân
dân thờ cúng, coi đó là biểu tượng, nơi ẩn
hiện của vị thiên thần hay nhân thần nào
đó. Người ta "sợ thần sợ cả
cây đa" mà cúng cây đa, đó không thuộc tục
bái vật. Cũng như người ta lễ Phật,
thờ Chúa, qú trước tượng Phật, tượng
Chúa, lễ Thần, qú trước long ngai của thần,
nhưng thần hiệu rơ ràng, chứ không phải khúc gỗ
ḥn đá như tục bái vật.
|
|
|
|
Ngày nay chỉ
c̣n lại vài dấu vết trong phong tục. Thí dụ,
b́nh vôi là bà chúa trong nhà, chưa ai định danh là bà chúa
ǵ, nhưng b́nh vôi tượng trưng cho uy quyền chúa
nhà, nhà nào cũng có b́nh vôi. Khi có dâu về nhà, mẹ chồng
tạm lánh ra ngơ cũng mang b́nh vôi theo, có nghĩa là tạm
lánh nhưng vẫn nắm giữ uy quyền. Khi lỡ
tay làm vỡ b́nh vôi th́ đem mảnh b́nh c̣n lại cất
ở chỗ uy nghiêm hoặc đưa lên đ́nh chùa,
không vứt ở chỗ ô uế. Gỗ cḥ là loại gỗ
quí, gỗ thiêng chỉ được dùng để xây
dựng đ́nh chùa, nhà thờ. Dân không được
dùng gỗ cḥ làm nhà ở. Ngày xưa trong đám củi
theo lũ cuốn về xuôi, nếu có gỗ cḥ, các cụ
c̣n mặc áo thụng ra lạy.
|
|
|
|

|
|
|
|
Tết
Nguyên Đán
|
|
|
|
* Giao thừa & Lễ
trừ tịch
|
|
Lẽ trời đất có khởi thuỷ
phải có tận cùng, một năm có bắt đầu
ắt phải có kết thúc, bắt đầu vào lúc
giao thừa, cũng lại kết thúc vào lúc giao thừa.
Giao thừa là ǵ? Theo từ điển Hán Việt
của Đào Duy Anh nghĩa là cũ
giao lại, mới đón lấy. Chính v́ ư nghĩa
ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai
năm cũ, mới này, có
lễ trừ tịch Trừ tịch là giờ phút
cuối cùng của năm cũ sắp bắt đầu
qua năm mới. Vào lúc này, dân chúng Việt Nam
theo cổ lệ có làm lễ
Trừ tịch. Ư nghĩa của lễ này là đem bỏ hết
đi những điều xấu của năm cũ
sắp qua để đón những điều tốt
đẹp của năm mới sắp đến. Lễ
trừ tịch c̣n là lễ để "
khu trừ ma quỷ", do đó có từ "trừ
tịch". Lễ trừ tịch cử hành vào lúc
giao thừa nên c̣n mang tên là lễ
giao thừa.
* Cúng ai trong lễ
giao thừa
Tục ta tin rằng mỗi năm có một
ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm th́ thần
nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế
để tiễn ông cũ và đón ông mới. Lễ
giao thừa được cúng ở ngoài trời là bởi
v́ các cụ xưa h́nh dung trong phút cựu vương hành khiển bàn giao công việc
cho tân
vương luôn có quân đi, quân về đầy không
trung tấp nập, vội vă (nhưng mắt trần
ta không nh́n thấy được), thậm chí có quan
quân c̣n chưa kịp ăn uống ǵ. Những phút ấy,
các gia đ́nh đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn
đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với
ḷng thành tiễn đưa người nhà trời
đă cai quản ḿnh năm cũ và đón người
nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản
hạ giới năm tới. V́ việc bàn giao, tiếp
quản công việc hết sức khẩn
trương nên các vị không thể vào trong nhà khề
khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm
chí chỉ chứng kiến ḷng thành của chủ nhà.
* Sửa lễ
giao thừa
Người ta cúng giao thừa tại các
đ́nh, miếu, các văn chỉ trong xóm cũng
như tại các tư gia. Bàn thờ giao thừa
được thiết lập ở giữa trời.
Một chiếc hương án
được kê ra, trên có b́nh hương, hai ngọn
đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật
gồm: chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh
chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu
nước và vàng mă, đôi khi có thêm chiếc mũ của
Đại Vương hành khiển.Đến giờ phút trừ
tịch, chuông trống vang lên, người chủ ra khấu
lễ, rồi mọi người kế đó lễ
theo, thành tâm cầu xin vị tân vương hành khiển
phù hộ độ tŕ cho một năm nhiều may mắn.
Các chùa chiền cũng cúng giao thừa nhưng lễ vật
là đồ chay. Ngày nay, ở các tư gia người
ta vẫn cúng giao thừa với sự thành kính như
xưa nhưng bàn thờ th́ giản
tiện hơn, thường đặt ở ngoài sân
hay trước cửa nhà.
·
Lễ cúng Thổ Công
Sau khi cúng giao thừa xong, các gia chủ cũng
khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản
trong nhà. Lễ vật cũng tương tự như
lễ cúng giao thừa.
·
Mấy tục lệ trong
đêm trừ tịch
Sau khi làm lễ giao thừa, các cụ ta có những
tục lệ riêng mà cho đến nay, từ thôn quê
đến thành thị, vẫn c̣n nhiều người
tôn trọng thực hiện.
Lễ chùa, đ́nh, đền: Lễ giao thừa ở nhà xong, người
ta kéo nhau đi lễ các đ́nh, chùa, miếu, điện
để cầu phúc, cầu may, để xin Phật,
Thần phù hộ độ tŕ cho bản thân và gia
đ́nh và nhân dịp này người ta thường xin
quẻ thẻ đầu năm.
Kén
hướng xuất hành: Khi đi lễ,
người ta kén giờ và hướng xuất hành,
đi đúng hướng đúng giờ để gặp
may mắn quanh năm.
Hái lộc: Đi lễ
đ́nh, chùa, miếu, điện xong người ta có
tục hái trước cửa đ́nh, cửa đền
một cành cây gọi là cành lộc mang về ngụ ư là "lấy
lộc" của Trời đất Thần Phật
ban cho. Cành lộc này được mang về cắm
trước bàn thờ cho đến khi tàn khô.
Hương
lộc: Có nhiều
người thay v́ hái cành lộc lại xin lộc tại
các đ́nh, đền, chùa, miếu bằng cách đốt
một nắm hương, đứng khấn vái
trước bàn thờ, rồi mang hương đó về
cắm vào b́nh hương bàn thờ nhà ḿnh.Ngọn lửa
tượng trưng cho sự phát đạt được
lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật ,Thánh phù hộ cho được
phát đạt quanh năm.
Xông
nhà: Thường
người ta kén một người "dễ
vía" trong gia đ́nh ra đi từ trước giờ
trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch th́ xin hương lộc hoặc hái
cành lộc ở đ́nh chùa mang về. Lúc trở
về đă sang năm mới và ngựi này sẽ tự
"xông nhà" cho gia đ́nh ḿnh, mang sự tốt
đẹp quanh năm về cho gia đ́nh. Nếu không
có người nhà dễ vía người ta phải nhờ
người khác tốt vía để sớm ngày mồng
một đến xông nhà trước khi có khách tới
chúc tết, để người này đem lại sự
may mắn dễ dăi.
|
|
|
|
|

|
|
|
|
Tục
lễ đầu xuân
|
|
|
|
* Tục lễ Động thổ
Lễ Động Thổ bắt đầu ở
Trung Quốc sau truyền sang Việt Nam. Động thổ nghĩa
là động đất, và trong khi động đất
phải có lễ cúng Thổ Thần để tŕnh xin bắt đầu động đến
đất cho một năm mới.
Hàng năm, sau ngày mồng ba Tết, các làng
thường làm lễ Động Thổ để cho dân
làng có thể đào cuốc xới được. Các bậc
kỳ lăo và quan viên được cử làm chủ tế
và bồi tế. Lễ vật gồm hương đăng, trầu rượu, y
phục và kim ngân đồ mă. Trong buổi lễ,
ông chủ tế cuốc mấy nhát xuống đất
để lấy một cục đất đặt
lên bàn thờ, "tường tŕnh" với Thổ
Thần xin cho dân được động thổ. Sau
lễ động thổ dân làng mới được
động tới đất. Ai cuốc xới trước
lễ động thổ bị dân làng bắt vạ.
* Lễ Khai hạ
Theo tục lệ Việt Nam, ngày mồng bảy
tháng Giêng là ngày hạ cây nêu. Cây nêu trồng trong năm,
khi sửa soạn đón tết cùng với cung tên bằng
vôi trắng vẽ trước cửa nhà để
"trừ ma quỷ", nay được hạ xuống.
Lễ hạ nêu c̣n được gọi là lễ Khai Hạ.
Nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng Trời Đất,
người ta c̣n sửa lễ cúng Gia Tiên, cúng Thổ
Côngvà thần Tài. Thường sau ngày lễ này, mọi
công việc thường xuyên mới được bắt
đầu trở lại.
* Lễ Thần
nông
Thần nông tức là vị hoàng đế
Trung Hoa đầu tiên đă dạy dân nghề làm ruộng.
Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông
để cầu mong sự được mùa và nghề
nông phát đạt.
Trên các quyển lịch hàng năm của người
Trung Hoa thường có vẽ một mục đồng
dắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần
Nông, c̣n con trâu tượng trưng cho nghề Nông. H́nh mục
đồng cũng như con trâu thay đổi hàng
năm tuỳ theo sự ước đoán của cơ
sở dự báo khí tượng về mùa màng năm
đó tốt hay xấu. Năm nào được mùa, Thần
Nông giầy dép chỉnh tề, c̣n năm nào đói kém, Thần
Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ
đi giày có một chân. Con trâu đổi màu tuỳ theo
hành của mỗi năm, vàng, đen, trắng, xanh,
đỏ đúng với Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏa, Thổ.
Hàng năm, vào ngày Lập Xuân tại triều đ́nh
xưa cũng như tại các tỉnh có tục tế
và rước Thần Nông. Người ta nặn trâu và
tượngThần Nông có dáng vẻ và màu sắc đúng
với sự ước lượng về mùa màng
năm đó. Sau đó lập đài để rước
trâu và tượng Thần Nông tới làm lễ tế.
Sau mỗi cuộc tế, trâu và tượng Thần Nông
được khiêng cất vào kho hoặc đem chôn.
*
Lễ Tịch điền
Lễ Tịch điền c̣n gọi là lễ
Hạ điền do chính vua Thần
Nông đặt ra. Cũng như các nghi lễ khác, lễ
Tịch Điền của người Tàu đă du nhập
sang ta. Hàng năm vào đầu xuân, nhà vua lại tự
thân cày mấy luống đất để làm
gương cho dân chúng và cử hành lễ Tịch Điền.
Tiếp sau vua, các hoàng thân, các quan văn vơ, các chức sắc,
bộ lăo sở tại cũng ra cày. Tại các tỉnh,
các xă cũng có lễ Tịch Điền... Ở tỉnh,
quan tỉnh bắt đầu lễ Tịch Điền
bằng việc cày và ở xă là vị chức sắc
cao nhất trong xă. Tùy từng triều đại việc
cử hành lễ Tịch Điền có lúc long trọng,
lúc đơn giản và ở mỗi địa
phương cũng có những tục
lệ riêng.
* Lễ Thượng
Nguyên hay Cúng rằm tháng Giêng
Lễ Thượng Nguyên vào ngày rằm tháng
Giêng. Từ triều đ́nh đến dân chúng đều
có lễ Phật trong ngày này. Ta có câu: "Lễ Phật
quanh năm không bằng rằm tháng Giêng". Tục ta
tin rằng ngày rằm tháng Giêng, đức Phật giáng
lâm tại các chùa để chứng độ ḷng thành của
các tín đồ phật giáo. Trong dịp này chùa nào cũng
đông người tới lễ
bái.
* Lễ Khai ấn
Các ấn được
lau chùi trong năm, ngoài xuân bộ lễ theo tục cũ cũng được chọn ngày lành, giờ tốt để làm
lễ khai ấn nghĩa là dùng ấn đóng lên một
công văn, chỉ dụ.
Thường văn bản đầu tiên được
đóng ấn là bản văn tốt lành. Tục khai ấn
này, Tại các tỉnh, các phủ,
huyện, châu, xă xưa kia mỗi viên chức có ấn
đều được chọn ngày khai ấn và sửa
lễ cúng vị thần giữ về ấn tín trong dịp
lễ khai ấn.
|
|
|
|

|
|
|
|
Tết Thanh Minh
|
|
|
|
Thanh Minh
Là tiết thứ năm trong "nhị thập
tứ khí" và đă được người
phương Đông coi là một lễ tiết hàng năm.
Tiết Thanh Minh đến sau ngày Lập Xuân 45 ngày. Theo
nghĩa đen, thanh là khí trong, c̣n minh là sáng sủa. Khi tiết
Xuân Phân qua, những cơn mưa bụi của trời
xuân đă hết, bầu trời trở nên quang đăng,
sáng sủa là sang tiết Thanh Minh (thường bắt
đầu trong tháng ba hoặc muộn lắm là đầu
tháng tư âm lịch tuỳ từng năm).
Tết Thanh Minh
Nhân ngày Thanh Minh, cũng như nhiều dân tộc
Á Đông khác. Dân ta có tục đi viếng mộ gia tiên
và làm lễ cúng gia tiên sau cuộc tảo mộ.
Lễ tảo mộ: Tảo mộ
chính là sửa sang ngôi
mộ cho sạch sẽ. Nhân ngày lễ Thanh Minh người
ta mang theo cuốc xẻng để đắp lại nấm
mồ cho to, rẫy hết cỏ dại và những cây
hoang mọc trèo lên mộ có thể phạm tới hài cốt
của người thân đă khuất. Sau đó cắm
mấy nén hương, đốt vàng mă hoặc đặt
thêm bó hoa dâng cho vong hồn người quá văng.
Bên cạnh những ngôi mộ được
trông nom, săn sóc, c̣n có những ngôi mộ vô chủ,
không người thăm viếng. Những người
có ḷng nhân đức không khỏi mủi ḷng thường
cắm một nén hương, đốt nắm vàng mă
cho những ngôi mộ này. Tại các nơi tha ma mộ
địa c̣n có lập một cái am để thờ
chung những mồ mả vô chủ gọi là Am chúng sinh và mỗi
cửa am có một bà đồng sớm tối đèn
hương thờ phụng.
Mọi
người đi tảo mộ ăn
vận rất chỉnh tề. Những người
quanh năm đi làm ăn xa cũng
thường trở về vào dịp này để tảo
mộ gia tiên và sum họp với đại gia đ́nh.
Thường người ta đi tảo mộ từ
sáng sớm cho đến gần trưa.
Tục lệ tảo
mộ: Thường người ta đi tảo mộ
vào tiết Thanh Minh trời quang mây tĩnh, và sau đó
kính mời hương hồn tổ tiên về hưởng
cỗ con cháu cúng trong dịp này. Nhưng cũng có nhiều
nơi người ta tảo mộ vào dịp trước
và sau ngày Tết. Nhiều
làng thuộc tỉnh Hà Đông ở vào vùng đất thấp,
tới vụ nước, ruộng nương và cả
băi tha ma đều ngập nước, th́ người
ta đi tảo mộ vào đầu tháng chín, sau khi
nước đă rút. Dù đi tảo mộ vào ngày nào th́
việc thăm nom mồ mả tổ tiên cũng là việc
hay. Nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến
gốc, tưởng đến nguồn.
Cúng lễ trong
ngày Tết Thanh Minh: Tết Thanh Minh cũng là dịp
để con cháu sửa lễ cúng gia tiên sau khi viếng
mộ về. Cũng có nhà sửa lễ mang ra mộ
cúng, nhưng đó chỉ là cúng riêng một ngôi mộ.
C̣n sau đó người ta vẫn cúng ở bàn thờ tổ
tiên và khấn tất cả gia tiên nội ngoại về
phối hưởng. Người ta thường cúng mặn
trong ngày Thanh Minh, nghĩa là có làm cỗ, hoặc không làm
cỗ th́ cũng có đĩa xôi, con gà cùng với
hương hoa, trà rượu, vàng mă. Và đồng thời
với việc cúng tổ tiên cũng có cúng Thổ Công
như trong mọi dịp.
|
|
|
|

|
|
|
|
Cúng
giỗ
|
|
|
|

|
Theo tập
quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất)
làm trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần
mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người
đă khuất mà cúng giỗ. Đây cũng là dịp gặp
mặt người thân trong gia
đ́nh trong ḍng họ, họp mặt để tưởng
nhớ người đă khuất và bàn việc người
sống giữ ǵn gia phong. Vào dịp đó người
ta thường tổ chức ăn uống, nên mới
gọi là ăn giỗ, th́ cũng là trước cúng sau
ăn, cũng là để cho cuộc gặp mặt
đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp,
kể chuyện tâm t́nh, chuyện làm ăn. Với ư nghĩa
"Uống nước nhớ nguồn" việc
đó có thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục.
|
|
|
|
* Ngày cúng giỗ
Ngày giỗ
theo âm Hán là huư nhật hay kỵ nhật, tức là lễ
kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ,
cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ. Nguyên ngày trước,
"Lễ giỗ" gọi là "Lễ chính kỵ";
chiều hôm trước lễ chính kỵ có "lễ
tiên thường" (nghĩa là nếm trước),
con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời
gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu
mời bà con làng xóm ăn giỗ cả
hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần
hoặc v́ bận việc hoặc v́ kinh tế hoặc
v́ thiếu người phục dịch, người ta
giản lược đi, chỉ mời khách một
|
|
lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn
cúng cả hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng
đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong
cả nước th́ trước
|
|
|
ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng
chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải
cúng buổi sáng.
|
|
* Mấy đời tống
giỗ
Theo gia lễ:
"Ngũ đại mai thần chủ", hễ
đến năm đời th́ lại đem chôn thần
chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng
tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất
mà thế vào thần chủ ông khảo.
Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ,
phụ (4 đời trên); thân ḿnh và tử, tôn, tằng
tôn, huyền tôn (4 đời dưới ḿnh). Như vậy
là chỉ có 4 đời làm giỗ (cao, tằng, tổ,
phụ) tức là kỵ (hay can) cụ (hay cố), ông bà,
cha mẹ. Từ "Cao" trở lên gọi chung là
tiên tổ th́ không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ
xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của
thuỷ tổ.
* Cúng giỗ người
chết yểu
Những
người đă đến tuổi thành thân, thành nhân
nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con
gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng
chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối
gịng). Những người đó có cúng giỗ. Người
lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh
hoặc anh ruột) được lập làm thừa tự.
Người cháu thừa tự được hưởng
một phần hay toàn bộ gia tài của người
đă khuất. Sau khi người thừa tự mất
th́ con cháu người thừa tự đó tiếp tự.
Những người chưa đến tuổi thành thân
(dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ
theo tục lệ địa phương) sau khi hết
lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ
với tiên tổ.
Những
người đó không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ
chỉ là ngoại lệ. Có những gia đ́nh bữa
nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi
đũa đặt bên cạnh mân, coi như người
thân c̣n sốngtrong gia đ́nh. Điều này không có trong gia lễ
nhưng thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng
đối với thân nhân đă khuất.
|
|
|
|

|
|
|
|
Cưới
hỏi
|
|
|
|
*
Nam
nữ thụ thụ bất thân là ǵ?
Đây là câu nói cửa miệng, quen dùng chỉ mối
quan hệ nam nữ theo quan niệm của nhà nho. Người
đàn ông và người đàn bà ngày xưa trao cho nhau
cái ǵ, nhận của nhau cái ǵ, đều không trực
tiếp tận tay, sợ bấm nháy, ra hiệu ǵ với
nhau chăng? Hai người muốn mời nhau ăn trầu, th́ người chủ tiêm
trầu, đặt giữa bàn, khách tự nhặt lấy
mà ăn. Lễ giáo phong kiến thật khắt khe, việc
tỏ t́nh trực tiếp khó mà thực hiện
được, họa chăng chỉ có đôi mắt
là thầm lén nh́n nhau! V́ vậy các nhà quyền quư thường
"cấm cung" con gái. Ngay từ tuổi thơ
đă sớm h́nh thành sự ngăn cách giới tính.
*
Mối lái là ǵ ?
Trong xă hội phong kiến xưa "Nam
nữ thụ thụ bất thân" nên hôn nhân cần phải
có môi giới. Nếu yêu nhau, cưới hỏi không cần
mối lái sẽ bị chê trách. Trong xă hội cũ, có
những người chuyên làm nghề mối lái, nếu
đẹp đôi vừa lứa th́ trở thành ân nhân suốt đời. Ở xă hội
mới, ngày nay vẫn c̣n có các bà mối, các bà mối thời
nay là người cố vấn, người đỡ
đầu cho đôi trẻ xây dựng hạnh phúc lâu
dài. Các bà mối chính là phương tiện thông tin đại
chúng, câu lạc bộ người độc thân, các
công ty dịch vụ....
* Lễ
vấn danh có ư nghĩa ǵ ?
Là lễ nhà trai đến nhà gái hỏi tên tuổi
cô gái, ngày nay gọi là lễ "Chạm ngơ" hay là lễ
"Dạm".
Trong hôn nhân xưa chỉ chú trọng có môn đăng hộ
đối hay không, có hợp tuổi không, gia đ́nh nào
thận trọng mới t́m hiểu "Công, dung, ngôn, hạnh".
Chẳng những các chàng trai, trước khi cưới
nhiều chàng chưa biết mặt vợ, mà cả những
ông bố chồng là người chủ động
đi hỏi dâu cũng không biết mặt con dâu.
* Sự
tích tơ hồng
Tơ hồng Nguyệt lăo thiên tiên dựa theo
tích Vi Cố gặp ông lăo trong một đêm trăng, ngồi
kiểm soát hướng về phía mặt trăng, sau
lưng có túi đựng dây đỏ. Ông lăo bảo
đó là văn thư đựng hôn ước của
thiên hạ, c̣n những sợi dây đỏ để
buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ thành
chồng. Một hôm, Vi Cố vào chợ gặp một
bà lăo chột mắt bế một đứa bé gái, ông
lăo hiện ra bảo cho biết đứa bé gái kia sẽ
là vợ anh, Vi Cố giận, sai
đầy tớ t́m giết đứa bé ấy đi.
Người đầy tớ đâm đứa bé giữa
đám đông rồi bỏ trốn. Muời bốn
năm sau, quan Thứ Sử Trương Châu là
Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Người con
gái dung sắc tươi đẹp, giữa lông mày có
dính trang điểm một bông mai vàng. Vương Cố
gạn hỏi, vợ mới thưa: thuở c̣n bé, bà vú bế vào chợ bị một
đứa cuồng tặc đâm. Vi Cố hỏi lại:
có phải bà vú bị chột mắt không? Người vợ
bảo: đúng thế. Vi Cố kể lại việc
trước, hai vợ chồng càng quư trọng nhau cho là
duyên trời đă định sẵn.
*
Tục thách cưới
Thách cưới là một lệ tục lạc
hậu, trói buộc cả nhà trai lẫn nhà gái, có khi làm
cho chàng rể phải bỏ cuộc mà nỗi thiệt
tḥi lại rơi vào thân phận người con gái, dẫu
sao cũng mang tiếng một đời chồng, dẫu
sao cũng làm cho những chàng trai khác phải ngại,
xui nên thân phận hẩm hiu.
Đáng lẽ nên vợ nên chồng, thành gia thành thất, là
mừng cho cả hai gia đ́nh nhưng gặp phải
ông bác bà cô bên nhà gái khó tính, thách cưới nào là quần
áo, nón dép, nào nhẫn xuyến, hoa tai, tiền mặt, cỗ
cưới...nên nhà trai phải bỏ cuộc hoặc phải
chạy ngược chạy xuôi, lo xong việc rồi
kéo cày trả nợ, song ngay từ buổi thành hôn, nghĩa
vợ chồng, t́nh thông gia đă bị sứt mẻ,
đó là mầm mống gây nhiều bất trắc về
sau.
Cũng có trường hợp nhà gái túng thiếu không thể
tự lực cung cấp cho đủ lệ làng, đ̣i
hỏi nhà trai phải lo chu toàn. Cũng có trường hợp
bố mẹ cô dâu c̣n phải xuất ra gấp năm gấp
mười lần, và sau khi thành thân, c̣n cho con gái, con rể
nhiều thứ, nhưng cũng thách cưới cao
để tránh tiếng x́ xào, đàm tiếu rằng con
gái ḿnh dở duyên rồi, nên phải cho không.
Hay các gia đ́nh có học th́ lại không thách tiền,
thách của mà thách chữ nghĩa văn chương chọn
rể con nhà gia thế, với hy vọng tương lai
con gái ḿnh c̣n được "vơng anh đi trước,
vơng nàng theo sau".
*
Tiền "Cheo"
Tiền "Cheo" là khoản tiền nhà trai
nạp cho làng xă bên nhà gái. Trai gái cùng làng xă lấy nhau cũng
phải nộp cheo nhưng có giảm bớt. Xuất xứ
của lệ "nạp cheo" là tục "Lan
nhai" tức là tục chăng dây ở dọc
đường hoặc ở cổng làng. Đầu tiên
th́ người ta tổ chức đón mừng hôn lễ,
người ta chúc tụng. Để đáp lễ, đoàn
đưa dâu cũng đưa trầu cau ra mời,
đưa quà, đưa tiền biếu tặng. Dần
dần có nhiều người lợi dụng ṿi tiền,
sách nhiễu, trở thành lệ tục xấu, triều
đ́nh ra lệnh băi bỏ. Thay thế vào đó, cho phép
làng xă được thu tiền cheo. Khi đă nộp
cheo cho làng, tức là đám cưới được
công nhận có giấy biên nhận hẳn hoi. Ngày xưa,
chưa có thủ tục đăng kư kết hôn, th́ tờ
nạp cheo coi như tờ hôn thú. Khoản tiền cheo
này nhiều địa phương dùng cho việc công
ích như đào giếng, đắp đường,
lát gạch, xây cổng làng... Đă hơn nửa thế kư,
lệ làng này bị băi bỏ rồi.
* Trước
khi cô dâu về nhà chồng cần những thủ tục
ǵ?
Khi nhà trai bắt đầu đến đón
dâu cùng với chú rể đến trước bàn thờ
xin tổ tiên chấp nhận kể từ nay nên vợ
nên chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận
đẹp, cầm sắt giao hoà. Lễ xong, hai người
đi mời chào thân nhân, khách khứa, trước hết
là những người bề trên, cao tuổi, khách
trước, người nhà sau. Trong khi chào mời, cô
dâu phải giới thiệu cho chàng rể biết mối
quan hệ để biết cách xưng hô.
Sau cùng, trước khi bước ra cửa để về
nhà chồng là lễ tạ cha mẹ. Cha mẹ ngồi
sẵn một phía ở cửa chính, nếu ông bà nội
ngoại c̣n thượng tại có đến dự th́
ông bà cũng ngồi chung một phía, nhưng ở phía
cao hơn. Thời xưa đôi tân hôn phải lạy hai
lạy, ngày nay châm chước, cúi đầu cung kính xin
phép ông bà, cha mẹ. Lúc đó, cha mẹ ban phát cho con gái,
con rể một vật ǵ đó làm kỷ niệm.
* Ư
nghĩa của lễ xin dâu và thủ tục
Lễ này rất đơn giản, trước
giờ đón dâu, nhà trai cử một hai người,
thường là bác, bà cô, bà chị của chú rể
đưa một cơi trầu, một be rượu
đến xin dâu, báo trước giờ đoàn
đóndâu sẽ đến, để nhà gái sẵn sàng
đón tiếp. Phong tục này có nhiều ư nghĩa hay: mặc
dù hai gia đ́nh đă quy ước với nhau từ
trước về ngày giờ và thành phần đón dâu,
song để đề pḥng mọi bất trắc nên mới
định ra lễ này để cẩn trọng trong
hôn lễ. Thời gian này chú rể và bố mẹ chú rể
rất bận rộn nên không thể sang nhà gái, nên uỷ thác cho người đại
diện sang báo như bộ phận "tiềm trạm".
Trong trường hợp hai gia đ́nh cách nhau quá xa hoặc
quá gần, hai gia đ́nh có thể thoả thuận để
miễn lễ nay, hoặc nhập lễ xin dâu và lễ
đón dâu vào làm một. Cách nhập lễ xin dâu và
đón dâu tiến hành như sau:
Khi đoàn vào đón dâu đến ngơ nhà gái, đoàn chỉnh
đốn lại y trang, sắp xếp lại thứ tự
đi trước đi sau, trong khi đó một cụ
già đi đầu cùng một người đội lễ
(mâm quả trong đựng trầu cau, rượu) vào
trước, đặt lên bàn thờ, thắp
hương vái rồi trở ra dẫn đoàn vào chính thức
làm lễ đón dâu. Lễ này phải tiến hành rất
nhanh. Thông thường nhà gái vái chào xong, chủ động
xin miễn lễ rồi một vị huynh trưởng
cũng ra luôn để đón đoàn nhà trai vào.
* Mẹ
chồng làm ǵ khi con dâu bắt đầu về nhà?
Phong tục ở mỗi địa
phương một khác, trái ngược nhau nhưng
đều có ư nghĩa hay.
Ngày xưa ở nhiều địa phương Nghệ
An, Hà Tĩnh có lệ tục mẹ chồng ra cất
nón cho con dâu: Nhà trai đặt sẵn trước ngơ một
nồi đồng, một cái gáo, trong nồi đặt
sẵn một quan tiền đồng và đựng
đầy nước trong. Cô dâu vào đến cổng
dùng gáo múc nước rửa mặt mũi chân tay, mẹ
chồng bước ra cất nón cho con dâu.
|
|
|
|

|
|
|
|
Tang
lễ
|
|
|
|
Người
Việt Nam
quan niệm rằng "nghĩa tử là nghĩa tận"
nên khi có người chết, tang lễ được
tổ chức trọng thể. Tŕnh tự lễ tang
ngày trước như sau: người chết
được tắm rửa sạch sẽ, thay quần
áo tươm tất, rồi lấy một chiếc
đũa đặt giữa hai hàm răng, bỏ vào miệng
một dúm gạo và ba đồng tiền xu gọi là lễ
ngậm hàm. Sau đó đặt người chết
nằm xuống chiếu trải sẵn dưới
đất (theo quan niệm "từ đất sinh
ra lại trở về với đất"). Tiếp
đó là lễ khâm liệm (liệm bằng vải
trắng) và lễ nhập quan (đưa thi hài vào
quan tài). Sau khi nhập quan là lễ thành phục,
chính thức phát tang. Con trai, con gái và con dâu của người
quá cố, đội khăn sô, mũ chuối (hoặc
mũ tết bằng rơm), mặc
áo sô. Cháu chắt họ hàng, thân thích chít khăn để
tang. Những ngày quàn người chết trong nhà đều
phải cúng cơm sớm, chiều. Phường nhạc
cử nhạc ai, bà con, bạn bè, làng xóm đến viếng.
Sau khi chọn được ngày, giờ tốt làm lễ
đưa tang. Đám tang có câu đối, linh sàng,
nhà táng (nơi đặt linh cữu). Người
đưa tang đi sau linh cữu, dọc đường
có rắc vàng thoi (bằng giấy). Đến huyệt
làm lễ hạ huyệt và đắp mộ. Chôn cất
xong về nhà làm lễ tế. Ba ngày sau tang chủ
làm lễ viếng mộ (lễ mở cửa mả),
được 49 ngày làm lễ chung thất (thôi
cúng cơm cho người chết). Sau 100 ngày làm lễ tốt
khốc (thôi khóc). Sau một năm làm lễ giỗ
đầu, sau ba năm (ở nhiều nơi là hai
năm) làm lễ hết tang.
Ngày nay, lễ tang
được tổ chức theo nghi thức đơn
giản hơn: lễ khâm liệm, lễ nhập
quan, lễ viếng, lễ đưa tang,
lễ hạ huyệt và lễ viếng mộ.
Người trong gia đ́nh để tang bằng cách
chít khăn trắng hoặc đeo băng tang đen.
|
|
|
|

|
|
|
|
Lễ
hội Việt Nam
|
|
|
|
Mùa xuân - mùa khởi
đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của
vạn vật, cỏ cây...Giữa tiết trời ấm
áp ấy, ḷng người phơi phới rủ nhau
đi hội, hành hương về cội nguồn, vui
chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con
người hạnh phúc.
Lễ
hội ở Viet
Nam thật đa dạng và
phong phú. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn
hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ
truyền lớn, nhỏ trải rộng khắp đất
nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi
lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị
riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một
một đối tượng linh thiêng cần
được suy tôn như những vị anh hùng chống
ngoại xâm, những người có công dạy dỗ
truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác
thú, giàu ḷng cứu nhân độ thế... Với tư
tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn
quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn
ra sôi động bằng những sự tích, công trạng,
là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại,
làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được
công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống
quê hương, đất nước của ḿnh. Đặc
biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với
làng xă, địa danh, vùng đất như một thành
tố không thể thiếu vắng trong đời sống
cộng đồng nhân dân.
Bởi
phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường
gắn với sự kiện lịch sử, tưởng
nhớ người có công với nước trong chiến
tranh chống giặc ngoại xâm nên các tṛ vui chơi ở
lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ
của tinh thần thượng vơ như: thi bắn nỏ,
đấu vật (hội Cổ Loa) đấu vật,
đấu vơ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam Định),
thi bắn nỏ, ném c̣n (ở vùng đồng bào dân tộc
phía Bắc) v.v...ở các lễ hội
của bà con dân tộc Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu
được coi như tiêu biểu nhất. Trong lễ
hội này, ngoài nghi lễ đâm trâu hiến tế hấp
dẫn, ly kỳ c̣n có tṛ múa khiên, ném lao, đấu gậy.
Các tṛ vui chơi giải trí ở lễ
hội c̣n bao gồm những hoạt động văn
hoá, xă hội khác như thi hát Quan họ,
thi thổi cơm, chọi gà, dệt vải, đấu
vật, đánh đu... Đặc biệt nhất là thi
đánh đu, không chỉ xuất hiện trong dịp lễ
hội lớn mà c̣n là một tṛ vui chơi dân dă trong những
ngày Tết ở khắp các làng xă.
|
|
|
|

|
|
|
|
Nguồn : Tổng
Cục Du lịch Vietnam
|
|
|
|
|
|